Trai nước Nam làm gì?

 

img_3885

Cuốn sách 10 chương viết năm 1943, trong tình cảnh nước Việt Nam một cổ hai tròng Pháp – Nhật. Đặt vào bối cảnh lịch sử ấy, cuốn sách có thể được coi là ấn phẩm tuyên truyền cách mạng, dấy lên phong trào yêu nước của thanh niên, đặc biệt hưởng tới nam thanh niên. Các cụm từ phổ biến như “Lập chí ngay mà làm việc cho tổ quốc”, “chung vai mà gánh vác trách nhiệm”, “xông tên đạn trên chiến trường”, “dựng cờ vàng”, “mười lăm tuổi lấy việc không được đầu quân làm xấu hổ”, “sợ gì một cái chết” và tương tự xuyên suốt tác phẩm.

 

Tác giả là đại diện cho tầng lớp trí thức Nho giáo và cải cách giáo dục thời bấy giờ, và có quan điểm cứng rắn về Nho giáo. Trước tình trạng Nho giáo dần thất thế và không còn “thiêng”, cùng sự thâm nhập ngày càng sâu của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản và tiêu dùng, Hoàng Đạo Thúy muốn dấy lên tinh thần ái Nho thông qua bàn luận về các vấn đề gia đình, làng xóm, quốc gia, dân tộc. Tác giả cho rằng Nho giáo có thẻ mang lại hòa bình thật cho xã hội, phải “trọn đạo làm người, giúp được cho đời”. Cuốn sách chứa nhiều tư tưởng lỗi thời và bảo thủ, nhưng cũng không thiếu những tư tưởng rất tiến bộ và đi trước thời đại. Một cái hay khác đó chính là nói thẳng, nói rành mạch.

Về góc độ kinh tế, tác giả chỉ ra bất cập, điểm yếu của chủ nghĩa tư bản: “Dùng không hết, nó ùn lại, nó ứ tắc. […] Nhiều gạo quá phải đổ bớt xuống bể, hàng nhiều quá phải thiêu bớt đi. Bên này thiêu, đổ đi, bên kia vẫn có kẻ đói, chết, kẻ túng thiếu.” Đây là những căn bệnh kinh niên của tư bản, nhưng tác giả khi viết cuốn sách cũng còn hạn chế góc nhìn, đánh bóng những gì thuộc thể tập thể, làng xã, và coi nhà giàu là “có tội với xã hội”, đầy tớ “là nô lệ của nhà giàu”. Điều này là dễ hiểu trong bối cảnh khác biệt gia cấp lên đỉnh điểm, nhưng chưa tiên đoán và chứng kiến những hậu quả khủng khiếp của kinh tế tập trung, chuyên quyền, cộng sản đem lại sau cách mạng. Mặt khác, tác giả không bàn đến một ý quan trọng: những tư tưởng Nho giáo hà khắc cũng là một nguyên nhân khiến con người ta cảm thấy được giải phóng khi làn sóng tư bản, văn hóa thể hiện cá nhân tràn đến.

Về tư tưởng và xã hội, tác giả coi đạo nho là “một tôn giáo hợp với lòng trời, hợp với bụng người. Không trái với khoa học, vừa hợp được trí khôn vừa hợp tâm lý, đủ cả ý nghĩa bền vững.” Hồ Xuân Hương chắc hẳn sẽ rất muốn bàn về luận điểm này vì Hoàng Đạo Thúy đã khéo không nhắc đến việc Nho giáo cổ xúy “Gái trong khung cửi, trai ngoài bút nghiên”, vợ là “người giúp thờ phụng tổ tiên, hầu hạ mẹ cha, sinh con đẻ cái”, chồng là “phu chúa của vợ”, và những định kiến về nghề như “xướng ca vô loài”, “con hát chỉ là một cái chơi”. Trên tất cả, Nho gia là vợ phải im lặng ngay cả khi chồng sai trái, không được ghen hay oán giận ngay cả khi chồng chung chăn với người khác, và chồng có quyền “dạy đức hạnh cho vợ”. Ở xã hội Việt Nam ngày nay ta còn thấy những tư tưởng này khá nặng nề tùy vào vùng miền, nhưng ta cũng thấy sự thay đổi đáng kể khi trong nhiều gia đình, người vợ đã chủ trì từ làm ăn, nội trợ, cho đến quản lí tài chính – chi tiêu.

Mặc dù cũng kêu gọi tôn trọng người phụ nữ “như là mẹ ta”, nhưng tác giả chưa nhìn ra (hoặc biết nhưng không muốn chỉ ra) những bất cập và gánh nặng của thể chế đó lên người phụ nữ và các tầng lớp thấp cổ bé họng trong xã hội. Đối với ông, việc học một ngành nhưng làm trái nghề là chuyện hổ thẹn và đáng buồn, nhưng ở thời đại ngày nay, ta nên nghĩ rằng đó là một giai đoạn quan trọng để thanh niên tôi luyện và rèn tính cách. Không phải ngẫu nhiên khi đọc tác phẩm ta thấy rất nhiều cụm từ “mục đích cao xa”, “cái đích xa xôi” lặp đi lặp lại.

Tuy nhiên, Hoàng Đạo Thúy tham gia các phong trào cứu tế xã hội và cũng có những tư tưởng tiến bộ, thậm chí ông có thể là một người tiên phong cho trong trào tự lực cánh sinh.

Ông mạnh mẽ, thẳng thắn chỉ trích đánh bạc, nghiện rượu, nghiện thuộc phiện, và chuyện chơi gái, việc du học mà chỉ xa hoa, ăn chơi, làm tôi tớ của tiền bạc, hàng hóa, trang sức. Tiền không mua được học vấn đích thực, tiền cũng “không làm người ta tin ở mục đích cao thượng”. Rồi thì “giờ An Nam” kiểu giờ cao su khiến công việc mất hiệu quả; việc làm cẩu thả, thiếu chính xác cũng ảnh hưởng đến năng suất.

Theo ông, đọc sách thì “óc được mở”, tập võ thì “người được khỏe mạnh”, ý nhấn mạnh việc trau dồi kiến thức phải song song với rèn luyện thể lực. Tự chủ, tự lập rèn luyện sức khỏe vì có chí phải nhất định đi đôi với có sức khỏe. Ngay cả ngày nay, khi đọc lại những dòng này ta cũng phải ngẫm nghĩ một lúc, rằng người xưa đúng là ăn-ngủ-sinh hoạt cũng rất khoa học và có điều độ:

“Ngủ nhiều mộng mị tốn tinh lực. Đệm êm làm hư người; ăn nhiều thịt cá lắm chất độc, phí tiền, hại dạ dày. Ăn ra quả nhiều thải độc, khỏe người. Ăn ít nhưng nhai kĩ, ngay cả với cháo; ăn đúng giờ”.

Về nền giáo dục nói chung, Hoàng Đạo Thúy chỉ ra căn bệnh chạy theo mốt; căn bệnh “sản xuất ồ ạt, vội vàng”, “lấy một tờ bằng cấp, một cái địa vị làm mục đích”; căn bệnh sản xuất thừa thầy, thiếu thợ.

Những tư tưởng về giáo dục con trẻ cũng rất tiến bộ: cẩn thận săn sóc con từ trong thai;  cha mẹ phải làm gương tốt cho con, nhưng đôi khi con cái chính là “người thày dạy mình”; cha mẹ yêu thương con, dạy con tự lập và biết nhận trách nhiệm.

Tinh thần của cuốn sách dường như nằm trong câu nói “Một đời dài mà chưa từng sống thì cũng như đã chết từ khi chưa sống. Sống một đời dài mà không có mục đích, chỉ tiêu tốn thời gian vào các cuộc chơi thì quả thật đáng thương.” Đây như một câu nói cảnh tỉnh cho người trẻ nói riêng và tất cả mọi người nói chung. Liệu chúng ta đã và đang thật sự sống một cuộc sống có mục đích, có ý nghĩa.

Cuốn sách đôi lúc khiến ta nghĩ đến một cuốn cẩm nang những điều răn dạy của một đạo sĩ. Tạm gác lại những dụng ý về chính trị của cuốn sách ra đời năm 1943, Trai nước Nam làm gì? như tiêu đề đã nói có rất nhiều lý tưởng và suy ngẫm sâu sắc của một học giả lớn của Việt Nam mà cả nam và nữ đều có thể và nên đọc, suy ngẫm, không phải để áp đặt những khuôn hình ý tưởng đó vào đời sống hiện đại, mà có suy xét và lựa chọn xem có phù hợp với bản thân, gia đình, và cộng đồng mình chung sống hay không.

Advertisements

Reading “Hiroshima”: Inferno lingers in our days.

Book cover Hiroshima

The following note appeared in the NEW YORKER of 31 August, 1946, as an introduction to John Hersey’s article “Hiroshima”.

The NEW YORKER this week devotes its entire editorial space to an article on the almost complete obliteration of a city by one atomic bomb, and what happened to the people of that city. It does so in the conviction that few of us have yet comprehended the all but incredible destructive power of this weapon, and that everyone might well take time to consider the terrible implication of its use.


 

John Hersey’s reputation precedes him. Born in China in 1914 to missionary parents, attended Yale College and later became a fellow at Cambridge, he inherited the privilege of high education and broad culture. His two masterpieces, a Pulitzer-prize winning novel “A Bell for Adano”, and “Hiroshima” – the article laying the foundation for New Journalism, eternally rank him among the finest American writers. Both works concern with World War II.

John Hersey covered the Second World War in Europe for the TIME (1937 – 1944), following the Allies’ soldiers who were liberating Italy. After the War ended, he wrote for the New Yorker, and once again was sent to an equally brutal battleground: post-nuclear-bomb Hiroshima. In May 1946, he was among the first western journalists to investigate the city of Hiroshima after the American nuclear bombing on August 6, 1945.

The author interviewed many witnesses and survivors, focusing mainly on six people: a German priest and five Japanese citizens (a Red-cross doctor, a private doctor, a female clerk, a Protestant pastor, and a tailor’s widow.) The six people were doing their daily rituals when a noiseless blinding flash in the sky wiped out their families, their peaceful neighborhood.

Each of these witnesses, with his or her geographical surroundings and distance from the ground zero, is described in details, from action to mental state. Surprisingly, everybody was calm on that morning. There had been warnings that Hiroshima, an important seaport and industrial powerhouse, would come next in the American bombing list, and that it would receive a “special treatment” from the Americans. The city had preparations such as trenches, shelters, and public radio speakers; however, the alerts repeated daily just reacting to American weather jets.

At exactly fifteen minutes past eight in the morning, the atomic bomb flashed above Hiroshima, knocking out the city dwellers among them six witnesses. The survivors didn’t remember what exactly happened next, except that they were thrown far hundreds of yards, crushed by the collapsed buildings, or cut by the sharp debris. Chapter 2 (The Fire) dedicated to describing how the people of Hiroshima struggled for life in ceaseless hell fire, their insufferable pains and torment as the walking zombies crowding the streets, the riversides, the hospitals. Some descriptions are striking:

“The asphalt of the streets was still so soft and hot from the fires that walking was uncomfortable”, “In the garden, on the way to the shelter, he noticed a pumpkin roasted on the vine. He and Father Cieslik tasted it and it was good. They were surprised at their hunger, and they are quite a bit. They got out several bags of rice and gathered up several other cooked pumpkins and dug up some potatoes that were nicely baked under the ground, and started back.” “When Mr. Tanimoto, with his basin still in his hand, reached the park, it was very crowded, and to distinguish the living from the dead was not easy, for most of the people lay still, with their eyes open.”

The next two chapters concentrate on the health consequences caused by extreme nuclear exposure, accompanied by speculations, investigations, and statistics coming from the scientists. Japanese scientists stated that the denotation released a 6000-Celsius-degree heat and nuclear residue that only a 50-inch concrete shelter could save a human being from harm. Elsewhere in the city, some people caught a radio wave broadcasting the American president’s announcement: “That bomb had more power than twenty thousand tons of T.N.T. It had more than two thousand times the blast power of the British Grand Slam, which is the largest bomb ever used in the history of warfare.”

With only 30,000 words, a calm voice, and matter-of-fact descriptions, John Hersey reported the wrestling survival of the six witnesses hours and days after the disaster, the city in a literal inferno, and the responses of the Japanese government.

The second nuclear bomb dropped on Nagasaki (August 9, 1945) forced the Japanese to surrender the Allies without condition, on August 15, 1945, officially ending the war on the Pacific front. For the first time, the Emperor “broadcasted his own voice through radio directly to us, common people of Japan.”

[…] Many civilians, all of them were in bandage, some being helped by shoulder of their daughters, some sustaining their injured feet by sticks, they listened to the broadcast and when they came to realize the fact that it was the Emperor, they cried with full tears in their eyes. […] When they came to know the war was ended – that is, Japan was defeated, they, of course, were deeply disappointed, but followed after their Emperor’s commandment in calm spirit, making wholehearted sacrifice for the everlasting peace of the world – and Japan started her new way.”

Then go on beautiful passages about the Japanese character that I think can only be felt by reading the text on one’s own.

When the world was still astonished and baffled at this tremendous event, Hersey’s article helped clear the mist surrounding the bomb’s destructive power and Hiroshima’s suffering. Together with the American lukewarm response to the Holocaust, Hiroshima added a new question without a satisfying answer: Was the decision to drop the bomb justifiable and necessary.

Under the journalist’s perspective, impartial and respectful, the author presented the religious, political, and military views of the people involved in this unprecedented issue. Nonetheless, the readers can feel the author’s deep sympathy towards the suffering of Hiroshima.

Hiroshima was published in its entirety in the NEW YORKER on August 31, 1946. Quickly many major magazines and broadcast television firms in America and around the world purchased the copyright. The New York University’s Department of Journalism ranked it #1 on Top 100 works of American journalism. Up to this day, the article has not lost its intensity and relevance, and remains a landmark of adapting fiction story-telling to journalistic reportage.

As a young Vietnamese reader, I feel an immense respect for the Japanese people who against all odds recovered their country to this day. But I couldn’t help thinking about the American war in Vietnam (called the Vietnam war by Americans). How might history have changed if the Americans used atomic bombs in the Vietnam battlefield? Hiroshima was just the opening of an atomic age. In 1961, the Soviet Union successfully experimented the nuclear bomb Tsar Bomba, which was 3,800 as destructive as the first atomic bomb. Is the world safer now? The common answer to that question is, “The world has never been the same ever since Hiroshima.”


John Hersey’s entire article on the NEW YORKER is Here.

Featured

2015 – the year of magical Reading & Healing

Reading is a lonesome business, but for me it’s never lonely. Another stormy year has passed, but with books it left fertile ground for my friendships to grow most deeply. Thank you my friends, wherever you are, I am thinking of our walk-talks, our laughter, our time contemplating together.

2015 was a humble year for reading. I intended to read at least 30 books cover-to-cover, but eventually left several books unfinished. I tried hard to have difficult conversations with some authors who passed away decades ago. Following are some books that I have read, minus the “periodically re-read”, such as Emerson, Jonathan Edwards, and the Bible.

2015 goals
A few books that I read in 2015

———————————-

  1. Just Kids_ by Patti Smith

The single most important book in my 2015. Detailed review here.

  1. The Elements of Style_ William Strunk, Jr. and E.B White:

Timeless, classic must-read for anyone who wants to advance writing, or communicate most effectively. Just don’t forget to practice after reading.

+ Print out the eBook 

+ Check out a Podcast about English Grammar

  1. Giovanni’s room_ by James Baldwin

[American fiction/ Europe/ Gay/ Gender equality/ Law & Conscience]

Banned, explicit about Homosexuality, by a black writer, so what? I had never thought that Gay relationship could be so complex until I read Giovanni’s Room. Reading something so honest, so introspective, so contrast to my pre-conceived notions, was like a punch in the gut. James Baldwin is eloquent and passionate, perhaps in the league of Tennessee Williams. More importantly, the book is not political; it’s about human beings contemplating, treating one another, receiving consequences for their own actions. A classic.

  1. The Fire Next Time_ James Baldwin

If you are a Christian, this book will provoke you. But it will make you think very deeply about the Church’s conduct, about yours as well. Be prepared.

  1. Sons and Lovers_by D.H. Lawerence

[Parental love/ Coming-of-age/ Family dysfunction/ Freudian psychology/ English Modernism/ Pre-WWI England]

My introduction to D.H. Lawrence couldn’t be more complex. Not so much a love story than a story about love. I see myself in Paul, in William, in Walter Morel, in Mrs. Morel, in Miriam, in Clara. Like Gustave Flaubert, Lawrence constructs his literary world like a mirror of ours; but unlike Flaubert, Lawrence doesn’t use satire, but delves deeply into his psychological characterization. “Lady Chatterley’s Lover”, his later work set Lawrence on the world stage, but to me, “Sons and Lovers” is his masterpiece.

I wanted to write a review for this book, but it is so massive to me that I never feel competent enough to write. There even is a literary branch studying D.H. Lawrence at Oxford. This book ranks 9th on Modern Library’s Top 100 best novels in English of the 20th century.

Check out Free Oxford podcast studying D.H.Lawrence

  1. Lady Chatterley’s Lover_ by D.H. Lawrence

[CLASS (ARISTOCRACY)/ PSYCHOLOGICAL FICTION/ ENGLISH MODERNISM]

Most notorious of the banned books. Pornographic or sexually explicit – up to you to decide. But truly, it is a superb work of art, a serious reflection on humanity in a turbulent time of English history, but also very applicable to today’s world.

  1. L’Étranger (The Stranger)/ 8. La Chute (The Fall)_ by Albert Camus

These two philosophical novels are among the most difficult (and absurd) novels that I have ever read. Camus talks about Paris, Amsterdam, French Algeria, about emotional isolation, depression, friendship, and so much more. These two novels are haunting and leaving me little to say about.  I must reread them before claiming anything.

  1. Trois contes (Three Tales)_ by Gustave Flaubert [FRENCH LITERATURE]

Short, readable classic text. This book made my prerequisite read before a seminar on the subject.

  1. Fahrenheit 451_ Ray Bradbury [AMERICAN LITERATURE]

This Book brought back my painful childhood memory, where I was a proud Guy Montag. Nothing particular in style, but its discussion on books is powerful. Books are so central to human meaning and existence; you are so lucky to be able to read and given a chance to read. Don’t blow it.

  1. Night_ by Elie Wiesel

[Holocaust Memoir/Life and Death/Theological Questions]

I cried – reading this Holocaust memoir. One of the most moving and emotional reading experiences in 2015.  I think that EVERYONE should read this book, especially if you haven’t known what the Holocaust is.

–> The eBook is available here.

  1. Tortured for Christ_ by Pastor Richard Wurmbrand

[MEMOIR/ HISTORY/ UNDERGROUND CHURCH/ COMMUNIST PRISON]

Pastor Richard Wurmbrand takes a clear, head-to-head stance against the communists who imprisoned him 14 years for his faith. Disgusting torture and brainwashing are some hideous examples of life in the communist prison.

Interestingly, Wurmbrand openly denounces hypocrisy in today’s western churches. He added that underground churches in restricted countries are relentlessly performing the wish of Christ, in the face of adversity and repression. I used to think Church and State are antagonistic rivals – not completely so in the Soviet Russia and contemporary socialist nations.

  1. Between Shades of Gray_ by Ruta Sepetys

[SOVIET LABOR CAMP/ HISTORICAL FICTION/FRIENDSHIP/ LOVE/ARTS]

This book is comparable to the classics of Holocaust literature, except it is about a larger-scale genocide under the Soviet Union. In the worst conditions of the Soviet Labor camps, love and hope still shined. I doubt if this book will be translated into Vietnamese or be circulated here in Vietnam.

  1. Shades of Gray_ by Carolyn Reeder

[American Civil War/ the American South/ Coming-of-age/ Courage]. See my book review here.

  1. O’Henry Short Stories Collection.

This book is required in my American Literature class. O’Henry, a talented story-teller, brings to his short stories the aspects of his own life (travel, disgrace, obscurity, fame, honor, and then neglect). My favorite stories are “The Last Leaf”, “The Gift of the Magi”, “One Thousand Dollars”, “Conscience in Art.”

O’Henry’s stories are historically significant since they talk about common people in New York City in late 19th-early 20th-century years, though they are criticized for being sentimental. I find his very honest and humane, in contrary. Three example stories are here.

  1. Red: My autobiography_ by Gary Neville

[AUTOBIOGRAPHY/ PROFESSIONAL SOCCER]

A soccer superstar offering his refreshing “career look-back”. Read my book review here.

  1. The Mekong: Turbulent past, uncertain future_ by Milton Osborne

[SOUTHEAST ASIAN HISTORY/ INDOCHINA]

A very good introduction to Indochina (Laos, Cambodia, Vietnam) studies. Milton Osborn is a historian, a Southeast Asia expert with significant experience in his field. Not only do you read about the river’s history, you will also know about the civilizations along its shore, the religions, ethnicities, the fish harvest crises, the current dams controversy, the China-ASEAN relation regarding the exploitation of the Mekong river.

  1. Day of Empire: How Hyperpowers rise to global dominance and why they fall_ by Amy Chua (Yale Law School)

This book couldn’t be more relevant for the current immigration issue in America. The United States is globally dominant; but how long can it maintain its position when other superpowers, i.e. China, India, the EU, are rising? Professor Chua argues that, for all the stains in American history, the United States has been relatively tolerant of ethnic divisions and assimilation. However, its growing multicultural society is inherently volatile. Could it repeat the mistakes by the Ottoman Empire, the Roman Empire, the Mongol Empire? What are the implications for the U.S. immigration laws? This is a good book to read before the 2016 U.S. Presidential Election.

  1. The Defining Decade _ by Meg Jay, Ph.D

If you are seeking life purposes, this study-motivational book will provide you the know-hows. The author has expertise in her psychology field, coining the term “Identity Capital” – the intangible, personal assets that you accumulate over time. I highly support her point that young people in their twenties should work and learn as much as they can to secure this “identity capital”. The rest of the book is not ground-breaking to me.

–> Check out her TED talk, Why 30 is not the new 20.

  1. Hà Nội trong mắt tôi (Hanoi in my eyes: A collection of short stories)_ by Nguyễn Khải

[AUTOBIOGRAPHICAL SHORT STORIES/ FAMILY & TRADITIONAL VALUES]

Don’t be confused by the title. The book is mainly about the humans of Hanoi in the 1970s, late 1980s and early 1990s. Some stories moved me deeply, i.e. those about the mothers, the wives, the disintegrated families in the face of a changing society and market economy.

(This book is currently only in Vietnamese. I am going to translate some of the stories into English.)

21+. “The History of Russian literature” and “European Romanticism and Literary Realism”, two college textbooks written by Vietnamese scholars in the 1980s.

———————————–

I did not finish “Life of Pi” by Yann Martel, “Demian” by Hermann Hesse, and “Arrowsmith” by Sinclair Lewis. These are all great books which I will finsh and review in 2016.

What did you read in 2015? Please share with me. I will be back with a “2016 to-be-read” list. Cheers!