“Bầy Thú Thủy Tinh”: Bi kịch của nước Mỹ hay tiếng nói của thời đại chúng ta?

IMG_1138.JPG

Tuổi trẻ có không ít những cuộc khủng hoảng, khiến chúng ta muốn tìm cho mình một lối thoát, một câu trả lời. Với tôi thì đọc sách chính là thế giới để đi tìm lời giải đáp.

Thời học đại học, vở kịch mà tôi ấn tượng nhất không phải là của văn hào Shakespeare, mà lại là một vở kịch hiện thực của Tennessee Williams người Mỹ. Khi ấy tôi chưa có nhiều bạn bè người Mỹ, cũng chỉ nghe thoảng về Giấc Mơ Mỹ, và rằng người Mỹ là những người giỏi kinh doanh nhưng rất khô khan và nông cạn. Ba tác phẩm vĩ đại nhất của Williams là “Bầy thú thủy tinh”(1944), “Chuyến tàu mang tên Dục Vọng”(1947), “Mèo trên mái tôn nóng” (1955), đã làm thay đổi cách nhìn nhận của tôi về nước Mỹ, người Mỹ.

Nếu văn học Lãng Mạn có thiên hướng xoay mình khỏi đời sống, tìm về với văn hóa dân gian, với thiên nhiên hoặc thậm chí siêu nhiên, với người anh hùng và những lý tưởng cao cả, thì văn học Hiện Thực là liều thuốc giải mộng, đi tìm những ngõ ngách đời trần, sự sinh tồn khắc nghiệt, đa phần là ở đô thị. Chủ nghĩa hiện thực miêu tả những quan hệ gia đình, xã hội, đời sống nội tâm phức tạp, những tủn mủn của cuộc sống mà khiến người đọc người xem nhanh chóng cảm nhận được.

Cả ba vở kịch của Williams đều mang đậm chất hiện thực và màu sắc tự truyện. Chính tác giả đã từng nói, “Tôi viết từ những đấu tranh nội tâm của mình. Đó như là hình thức trị liệu vậy.”

Thomas Lanier Williams sinh ra ở bang Mississippi, miền nam nước Mỹ, trưởng thành trong thời kì Đại Suy Thoái những năm 1930 của thế kỉ 20. Tuổi thơ của ông gắn liền với những kí ức về mẹ, chị gái, và một người bố làm ở một nhà máy đóng giầy. Đó là một tuổi thơ không bình yên, phải liên tục cùng gia đình tha phương cầu thực; một ông bố nát rượu; một người mẹ tê liệt trong cuộc hôn nhân bất hạnh; một người chị thu mình khỏi thế giới bên ngoài sau những nỗ lực không thành cho sự nghiệp viết lách. Từ khi còn niên thiếu, Tennessee Williams đã có hoài bão trở thành nhà văn, và thực sự một số truyện ngắn của ông đã giành giải cao và được in báo. Nhưng chỉ sau ba năm học ở đại học bang Missouri, Williams đã phải bỏ học, dành ba năm làm việc cho một nhà máy giầy ở St. Louis. Những trải nghiệm đầu đời này đã truyền cảm hứng cho tác phẩm “Bầy thú thủy tinh” của ông sau này, khi mà nhân vật chính, Tom Wingfield, cũng khát khao hành trình theo đuổi giấc mơ, nhưng đôi cánh tự do của anh lại bị trói chặt ở nhà máy đóng giày.

Tom Wingfield có hoài bão lớn, yêu thơ ca, nhưng bản thân anh hàng ngày phải chống chọi với hiện thực nhàm chán và thực dụng ở nhà máy giày. Cha của anh cũng giống như nhiều người đàn ông Mỹ của thế hệ những năm 30 – 40, họ làm tiếp thị hoặc viễn thông, đi hàng ngàn cây số và bỏ lại gia đình phía sau. Mẹ của anh, bà Amanda Wingfield từng là hoa khôi của miền nam nước Mỹ, nay đã thất thời, tuyệt vọng, thu mình vào thế giới ảo tưởng và thường đay nghiến các con của mình. Chị gái của Tom là Laura, một cô gái tập tễnh vì bệnh bại liệt, mặc cảm vì đã bỏ học cấp ba và cũng bỏ trường dạy nghề thư kí. Ba mẹ con sống trong căn hộ dột nát và ảm đạm ở một góc của thành phố St. Louis.

Bi kịch của gia đình Wingfield, có lẽ cũng là bi kịch của nước Mỹ hay của thời đại chúng ta, đó là mỗi người đều muốn những gì tốt đẹp nhất cho người thân yêu, nhưng không nhận ra rằng những tham vọng và kì vọng đó đang bóp nghẹt chính những người thân yêu của mình, để rồi mỗi người lại lặng thinh, co cụm vào thế giới của riêng mình. Với Tom, thế giới đó là hàng đêm rượu chè với bè bạn và xem phim, dù biết rằng đó chỉ là trốn chạy tạm thời. Với bà Amanda, đó là dĩ vãng về những cuộc tình, ảo ảnh về quá khứ xuân thì. Với Laura chị gái của Tom, đó là thế giới của những bản nhạc cũ và bầy thú thủy tinh, nơi mà Laura gắng gượng từ chối người mẹ luôn nài nỉ tìm cho cô một ý chung nhân.

Là kịch hiện đại nhưng mang màu sắc biểu cảm cao, với những nhân vật và tiểu cảnh như đặt trong cõi mơ. Ngôn ngữ kịch của Williams đậm chất thơ, uyển chuyển, mãnh liệt, nhưng cũng rất đời thường bởi sử dụng phương ngữ miền nam. Khi đọc tác phẩm và những chỉ dẫn về sân khấu của Tennessee Williams, tôi như được bước vào thế giới của chính những nhân vật. Đa phần họ là những kẻ ngoại đạo bị xô đẩy ra ngoài rìa xã hội, đã trắng tay vì thời thế suy chuyển, phải vật lộn với cuộc sống rối ren đầy những tiểu xảo giả dối. Họ không hoàn toàn xấu, nhưng cũng không hoàn toàn chân thiện, trong họ là cả thế giới nội tâm phức tạp và sâu sắc. Laura có tâm hồn trong sáng và nhạy cảm, nhưng cô quá yếu đuối trước người mẹ quyết đoán; cô đánh cược hết hy vọng và trái tim mình vào một chàng trai, bạn của Tom, để rồi lại tan nát trái tim khi chàng trai đó từ chối tình cảm của mình; khi ấy Laura lại thu mình vào thế giới của bộ đồ chơi thủy tinh và không thể thoát ra được. Tom Wingfield cuối cùng đã dứt áo ra đi, không bao giờ gặp lại mẹ và chị gái của anh nữa. Có thể anh là một kẻ ích kỉ, đi theo dấu chân của cha mình, theo đuổi những lý tưởng của mình, nhưng nếu ở lại thì anh cũng sẽ tự hủy hoại mình. Có lẽ anh đã cứu rỗi được bản thân, nhưng mặc cảm tội lỗi và dáng hình yêu dấu của chị gái đã theo anh suốt cuộc đời, để rồi vở kịch “Bầy thú thủy tinh” mở đầu và kết thúc cũng chính bằng những lời rãi bày ám ảnh của Tom.

Trong “Bầy thú thủy tinh”, những cuộc đối thoại giữa các nhân vật làm nên sức sống vĩnh cửu của tác phẩm. Chúng không rao giảng triết lí đơn thuần, mà đặt ra những câu hỏi rất con người về ý nghĩa của cuộc sống, về vực sâu ngăn cách giữa khát vọng và thực tại, về sự đối nghịch giữa tình yêu, trách nhiệm và hoài bão cá nhân.

[…]

TOM:  Chuyện gì thế mẹ?

AMANDA:  Laura!

TOM:   Ôi! … lại là Laura…

AMANDA:   Con biết Laura mà. Nó ít nói – nhưng mà sông càng sâu càng tĩnh! Nó biết quan sát đấy – mẹ nghĩ là nó u sầu suy nghĩ về mọi thứ. Mấy hôm trước mẹ bước vào, thấy nó đang khóc.

TOM:  Khóc về cái gì chứ?

AMANDA:  Về con.

TOM:  Con ư?

AMANDA:   Nó nghĩ là con không hạnh phúc ở cái nhà này.

TOM:   Sao chị ấy lại nghĩ như thế cơ chứ!?

AMANDA:   Tại sao ư? Con cư xử kì cục quá. Mẹ … Không phải mẹ mắng nhiếc, hiểu không! Mẹ biết hoài bão của con không nằm trong cái xưởng máy ấy. Mẹ biết là con cũng giống mọi người trên cái thế giới này, phải hy sinh một số thứ … Nhưng Tom – Tom – cuộc sống đâu có dễ dàng như thế! Mình phải biết chịu đựng như dũng sĩ Spartan ấy! Trong tim mẹ còn nhiều điều muốn nói . . . Mẹ chưa từng nói với con nhưng – mẹ rất thương bố con . . .

TOM:   Con biết điều ấy.

AMANDA:   Còn con –  mẹ thấy con đi theo vết xe đổ của ông ấy! Đi khuya về hôm – mà lại còn uống rượu say bí tỉ – cái bộ dạng thảm hại đó! Laura nói là con ghét căn nhà này, rằng con đi đêm chỉ để lánh xa khỏi cái nhà này! Có phải vậy không Tom?

TOM:   Không! Mẹ nói  rằng có quá nhiều nỗi niềm mẹ không thể chia sẻ với con. Con cũng vậy thôi. Có quá nhiều điều trong con mà con không thể rãi bày được. Vậy hãy trọng lẫn nh…

AMANDA:   Nhưng mà, tại sao – tại sao hả Tom? – sao con lúc nào cũng thao thức? con đi đâu – hết đêm này qua đêm khác?

TOM:   Con  … đi xem phim.

AMANDA:   Sao lại đi nhiều thế hả Tom?

TOM:  Con đi xem phim vì … con thích phiêu lưu. Phiêu lưu là thứ con chẳng tìm được trong công việc, nên con phải đi.

AMANDA:  Nhưng mà Tom, con đi nhiều quá lắm!

TOM:  Vì con thích phiêu lưu nhiều, vậy thôi.

AMANDA:   Hầu hết trai trẻ đều có cả sự nghiệp lẫn phiêu lưu mà.

TOM:  Hầu hết họ không phải làm việc trong các xưởng máy.

AMANDA:  Thế giới này có vô vàn trai trẻ làm trong nhà xưởng, nhà máy, văn phòng!

TOM: Liệu tất cả trai trẻ – họ có thực sự thấy phiêu lưu trong sự nghiệp không?

AMANDA: Có hoặc không! Không phải ai cũng điên lên vì sự phiêu lưu.

TOM: Đàn ông sinh ra có bản năng của một người tình, một kẻ thợ săn, một chiến binh – mà chẳng có bản năng nào có đất ở cái công xưởng cả!

AMANDA: “Đàn ông có bản năng!” Đừng có kêu “bản năng” ở đây với tôi! Bản năng là thứ người ta phải chối bỏ đi … nó thuộc về thú vật! Người theo Chúa, người trưởng thành … không cần mấy thứ đó!

TOM: Vậy người trưởng thành tin Chúa thì họ cần gì đây, thưa mẹ?

AMANDA: Những thứ cao siêu hơn kia! Những thứ trí tuệ và tâm linh! Chỉ có thú vật mới phải thỏa mãn những cái bản năng kia. Tham vọng của con cao hơn của bọn thú vật! Hơn là khỉ – là lợn – là. . .

TOM: … Con nghĩ không đâu mẹ ạ!

[. . .]

Vở kịch “Bầy thú thủy tinh” (1944) được ra mắt ở New York năm 1945, là bước ngoặt trong sự nghiệp của Tennessee Williams, đưa ông thành một ngôi sao sáng trong làng kịch nghệ Mỹ trong suốt hai thập kỉ sau đó.

Đã hơn 70 năm từ khi vở kịch ra đời, nhưng cái tên gia đình Wingfield vẫn đứng hiên ngang với gia đình Tyrone (kịch của Eugene O’Neill) và gia đình Loman (kịch của Arthur Miller) làm nên vị thế của ba kịch gia vĩ đại nhất văn học Mỹ.

Với tôi vở kịch vẫn còn nguyên vẹn những giá trị nhân văn, những câu hỏi mà nó đặt ra từ thuở đó còn vang xa đến thời kì hiện đại. Giá trị và niềm tin vào cuộc sống con người có còn đặt trong công việc, trong các mối quan hệ gia đình, bạn bè hay không? Có chăng nó đang trở nên mong manh như những con thú thủy tinh mà Laura mơn trớn? Liệu con người chúng ta có thể vượt qua rào cản và những khác biệt để mở cánh cửa tâm hồn, để bắt đầu đối thoại và hiểu nhau hơn? Cá nhân tôi tin rằng chúng ta có thể. Chính những tác phẩm đậm chất nhân văn như của Tennessee Williams là minh chứng rõ ràng nhất.

Advertisements

Bridging Cultures through Film Noir and Short Narrative

From January to May 2016, teachers and graduate students at the University of Languages and International Studies converged in an American Studies class held by the Faculty of Linguistics and Cultures of English Speaking Countries.

Through this course, we have improved our understanding of two forms of American Arts, coming closer to the American culture. I relished being able to return to my school, seeing my former teachers, and seriously engaging in the United States Studies, which I had been doing individually since 2012. It was wonderful to study alongside my teachers and other professionals with much experience in the field.

Our course instructor, Professor Jack Yeager from Louisiana State University, is a Fulbright scholar and expert in Francophone literature. His Fulbright fellowship offered him the second chance to be in Vietnam; this time at my university for six months.

with prof Yeager and English Falcuty
With Professor Jack Yeager of Louisiana State University and English Faculty teachers of the University of Languages and International Studies. (photo by Ms. Hai Ha)

Professor Yeager delivered the course in two parts. Part One focused on American short narrative; the other on Film noir.

The first part commenced with two chapters of Mark Twain’s “Life on the Mississippi” (1883). Reading “Castles and Culture” and “The Metropolis of the South”, we journeyed back to the late 19th century Louisiana, particularly to two major cities – Baton Rouge and New Orleans. Twain’s vigorous language pioneered the “narrative journalism” and “travel writing”, transforming the Mississippi river from a transportation corridor into a “personality” and a quintessentially American soul.

The discussion locomotive marched on with Nathaniel Hawthorne’s “The Birthmark” (1843) and Edgar Allan Poe’s “The Tell-tale Heart” (1845) – two works of early American Romanticism. By the 1830s, European countries had been transitioning into literary Realism. Although flowering 30 years later than its European counterpart, American Romanticism shared the movement’s essential themes of human isolation, discontent with urbanism, and the fascination with the supernatural. Though regarded as masterworks, these narratives received critical questions about their limited white-male perspectives, their historical and socioeconomic context in which they were composed.

Afterwards, we studied the Naturalistic school exemplified with Stephen Crane’s “The Blue Hotel” (1899), Willa Cather’s “Two Friends” (1931), Jack London’s “To Build a Fire” (1908). These short stories explored the harsh nature of the Midwest (Nebraska, Kansas) and Yukon. Crane examined the immigration mindset and fatal miscommunication among people. Cather, infusing the Panic of 1893, the Gold Standard crisis and the 1896 Presidential election in her story, proved that the political atmosphere in America at the time was far-reaching and potentially divisive. Jack London vividly portrayed man’s futile conquest against nature and the unknown.

The three above stories are coated with regional dialects, historical allusions, and unusual punctuation. Thus, often we must read their dialogues aloud to understand the mood and to process comprehension. The class encountered this similar issue with O’Henry’s “The Gift of the Magi” (1905), a parable rich in comic irony, slang, and rhythm.

In addition, we studied a young voice from the Vietnamese American community, with Monique Truong’s comic tale named “Skin and Bones” (2014).  Written about a Vietnamese American woman’ journey to Vietnam to learn about her origin, its fantastical nature resembles that in Maxine Hong Kingston’s novel “The Woman Warrior” (1976) which concerns majorly about the Asian American experience.

Also interested in gender studies, professor Yeager brought to class early American stories that reflect gender attitude across the centuries. For instance, Kate Chopin’s “Desireé Baby” (1893) and William Faulkner’s “Dry September” (1931) – two stories that raised debates about feminism, class, and race (especially in the American South). “Brokeback Mountain” (1997) by Annie Proulx explores the taboo subject of homosexuality in the unforgiving landscape of Wyoming, western America.

The question of racism and justice was put into perspective at our screening of “To Kill a Mocking Bird” (Universal Pictures, 1962), an Oscar-winning film based on Harper Lee’s Pulitzer-Prize winning novel of the same name. Often invigorated with professor Yeager’s American experience and perspective, the Q&A sessions gave us a more wholesome picture of the United States history, landscape, and people.

There are legitimate questions to ponder, moreover. The purpose of this introductory course was to provide an overview and the techniques to integrate some of the course materials into the faculty’s literature syllabus and teaching methodology. “Should and how do we insert a particular narrative into the class discussion?” “Is it too long or too short for the task at hand?”, “How can we make it attractive to the students?”, “What background information do the students need?”, “Should films be a medium for teaching in a literature classroom?” So on.

Taking the opportunity to prepare and present the assigned stories, we marched into the rigorous classroom discussion. But for the limited time budget, I wish there were Mid-term/Final essays or Reaction papers as in the intended syllabus. Plus, it is fun to do a reading collage, a writing portfolio, or short “report” videos for the future workshops.

————

The second half of the course focused on American Film Noir – a famous Hollywood film genre/style.

IMG_4899.JPG
Film Noir is different from Black-and-white films, which I had not known before the course

Influenced by German Expressionist cinema and film directors who fled Germany during World War II, Film noir borrowed many German aesthetic devices, plot conventions, and stereotypical characters, to evolve into a wholly American film style.

Detective fiction of the early 20th century inspired Film noir, whose plots frequently concern crime, deadly violence, daring “mind game” between ambitious criminals and clever detectives. The setting is usually the city at night with criminal activities and gunfights.

It is difficult to define Film noir, however. Not every film noir has a private detective and a killer dame (“femme fatale”) set in an urban landscape. One film can be more brutal, explicit, or romantic than the other. There is so much to learn that a few class sessions (despite extensive discussion) seemed to scratch merely on the surface.

The chosen classic films were The Maltese Falcon (Warner Brothers, 1941), M (Nero-film A.G., 1931), The Big Sleep (Warner Brothers, 1946), The Big Heat (Columbia, 1953). During the screenings, we paused at key scenes to discuss the technical innovations, i.e. the high-speed lenses, the angled shots and close-up shots, dark/light contrast, the classic three-point lighting, etc.

There were difficulties since the characters spoke in the old vernacular (although the films did have subtitles). Certain scenes carry symbolic meaning or reference to contemporary people’s attitudes. For example, the dark streets, the shadows, the stairs, the bridges. That is not to mention the symbolic costume, makeup, and hairstyles.

For me, the course has been highly educational, although film noir is not my favorite film genre. The wonderful part is to be able to recognize the “noir” techniques and motifs that are still widely employed in modern films. It’s amazing how those little things can create such nuanced psychological effects in film viewers.

—————

Thank you the Faculty of Linguistics and Cultures of English Speaking Countries for successfully holding this course, for sharing your concerns about the school, the curriculum, the students, and most of all, your life as a teacher. We express our special thanks to professor Yeager, for his commitment, his knowledge and witty sense of humor. Thanks for making this learning experience much more fruitful than it would have been had we done it alone. We hope to meet again in the future!

Featured

“Just Kids” by Patti Smith: a spectacular memoir championing Arts and Friendship

Patti Smith just kids

“I’m certain, as we filed down the great staircase, that I appeared the same as ever, a moping twelve-year-old, all arms and legs. But secretly I knew I had been transformed, moved by the revelation that human beings create art, that to be an artist was to see what others could not.”
                                                  _ Just kids, by Patti Smith

I read Patti Smith’s memoir, Just Kids, in February, reread it in summer of 2015, and have mentioned this book all the time. It is so massive to me – not because the author is an iconic figure, the godmother of Punk – but for its candor, depth, and very human feelings – the things that I look for in memoirs.

Patti Smith, born in 1946, is the legendary Punk rock singer-songwriter, a poet, a visual artist and photographer. The book revolves around Patti Smith’s relationship with one of the most significant people in her life-her soul mate, photographer Robert Mapplethorpe, and their evolution from young aspiring people to professional artists. Their friendship began in odd situations in New York, carried through the years; they both loved and hurt each other deeply. They supported each other when the other was down. Their relationship fluctuated after Mapplethorpe admitted that he was gay; and for a while, they went in and out of friendship. Nonetheless, their love for each other in the end endured even beyond Robert’s death in 1989.

Just kids is well-written from the beginning to its end. It is so liberating and uplifting; and yet it doesn’t hide the very difficult times when Patti, before establishing her path, was still starving, roaming the streets, sleeping at doorbells, in subways or in graveyards, when “a handful of coins on the telephone could mean one less meal.” Living on the edge, she admittedly mused,

“I wondered what was the point of creating art. For whom? Are we animating God? Are we talking to ourselves? And what was the ultimate goal? To have one’s work caged in art’s great zoos – the Modern, the Met, the Louvre?

I craved honesty, yet found dishonesty in myself. Why commit to art? For self-realization, or for itself? It seemed indulgent to add to the glut unless one offered illumination.

Often I’d sit and try to write or draw, but all of the maniac activity in the streets, coupled with the Vietnam War, made my efforts seem meaningless. I could not identify with political movements. In trying to join them I felt overwhelmed by yet another form of bureaucracy. I wondered if anything I did mattered.”

Patti’s struggle to find a purpose in art and life is so human and relevant to me as a young person. What is the aim of a real artist? Should it be in “great zoos” (the museums) or be towards the PEOPLE? In a culture that still devalues and stifles individualism, it is not easy for me to find a means for self-expression that won’t be persecuted or bullied, except in doing small-scale paintings to convey my thoughts. But I am yet comfortable doing it for myself; I want to reach out and inspire those who are like me or less lucky than me. After reading Just kids, I believe that that mission is possible.

Many young aspiring artists who still question their paths, I think, will find inspiration in Mapplethorpe, for his absolute confidence and belief in arts. In low times, when even Patti “nearly regretted the pursuit of art”, it was Robert’s drive and focus that assured them to stay staunch and hold on to their missions.

“He wasn’t certain whether he was a good or bad person. Whether he was altruistic. Whether he was demonic. But he was certain of one thing. He was an artist. And for that he would never apologize.”

That never meant living by the will alone; there were times when Robert had to take to hustling, offering himself to strangers to make extra money; when they lived on  day-old bread, took turns to see art exhibitions to report to each other; when they were so desperate that they had to pocket drawing supplies.

Just kids also dedicates a large proportion to the 1960s counter-culture, having an intrinsic historical value. In the 1960s-1970s, New York was a scary place to live; yet, it was the nurturing place for generations of artists, i.e. Allen Ginsberg, William Burroughs, Janis Joplin, Dylan Thomas, Jimi Hendrix, Salvador Dalí, etc. Hotel Chelsea was a strikingly iconic place where these artists lived and frequented, the “salon d’Art” for ambitious and already esteemed artists alike. Patti and Robert were part of that artistic community, were mentored by many of those artists, and were simultaneously adding “fabrics” to that tapestry. All of these scenes are captured vividly in Patti’s classical eyes and candid narration.

If you love arts, music, and poetry, please read this book. You will find how beautiful and powerful effect that those three elements can create together, that every effort you put in arts is worthwhile.

If you love New York City, 1960s-1970s, this book is perfect for you. If you are still wavering in your career choices, read this book. You don’t need to be in the humanities to be inspired by Patti and Robert’s stories.

If you are still lonely and searching for true friendship, for ones who will understand you and love you for the weird person that you are, please read this book. It makes me laugh, smile, and weep and remain hopeful as ever.

Just kids is written with heart and soul, and I am so glad to have this book in my life. Please read the book, then listen to her recording “Paths that cross.”

In 2005, Patti Smith was named a Commander of the Ordre des Arts et des Lettres by the French Ministry of Culture. In 2007, she was inducted into the Rock and Roll Hall of Fame. Just kids won the 2010 National Book Award for Nonfiction and has been continually circulated among a wide range of readers. Patti Smith’s debut album Horses was a key factor and major influence on the New York Punk rock scene.

——Some useful links:

Amazon linkhttp://www.amazon.com/Just-Kids-Patti-Smith/dp/0060936223

2010 National Book Award Winner

NPR interviewhttp://www.npr.org/templates/story/story.php?storyId=122722618

Louisiana channel interview: https://www.youtube.com/watch?v=b6nIhaagnbA

Patti Smith’s advice to the young: https://www.youtube.com/watch?v=L2EO3aXTWwg

* Some of Patti Smith’s greatest songs:

Horseshttps://www.youtube.com/watch?v=FPwOfwhpiW8

Paths that cross: https://www.youtube.com/watch?v=Cln_1lthtC0

People have the power: https://www.youtube.com/watch?v=pPR-HyGj2d0

Fire of unknown origin: https://www.youtube.com/watch?v=Y_2KIUuShbM